I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN

1. Khái niệm, bản chất kiểm toán

1.1. Khái niệm:

Là một quá trình do các KTV có đủ năng lực và độc lập tiến hành nhằm thu thập các bằng chứng về những thông tin có thể định lượng được của một tổ chức và đánh giá chúng nhằm thêm định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin đó với các chuẩn mực đó được thiết lập.

>> dịch vụ thành lập công ty tại biên hòa

1.2. Bản chất:

Kế toán là công cụ quản lý kinh tế, tài chính thể hiện ở chỗ kết quả công việc kế toán là đưa ra các thông tin trên báo cáo tài chính (BCTC) và những chỉ tiêu phân tích, đề xuất giúp cho người lãnh đạo, điều hành đưa ra quyết định đúng đắn.

Vì thế, mọi người sử dụng thông tin từ BCTC đều mong muốn nhận được các thông tin trung thực và hợp lý.

Hoạt động kiểm toán ra đời là để kiểm tra và xác nhận về sự trung thực và hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán và BCTC của các doanh nghiệp, tổ chức; để nâng cao sự tin tưởng của người sử dụng các thông tin từ BCTC đã được kiểm toán.

Các tác giả Alvin A.Aen và James K. Loebbecker trong giáo trình kiểm toán đã nêu một định nghĩa chung về kiểm toán như sau: “Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng được của một đơn vị cụ thể, nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được thiết lập”.

Theo định nghĩa của Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) “Kiểm toán là việc các Kiểm toán viên (KTV) độc lập kiểm tra và trình bày ý kiến của mình về BCKT.

2. Phân loại kiểm toán.

2.1. Căn cứ vào mục đích, kiểm toán có 3 loại:

2.1.1. Kiểm toán hoạt động:

Là việc KTV hành nghề, Doanh nghiệp kiểm toán (DNKT), chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra các ý kiến về tính kinh tế, hiệu lực và hiểu quả hoạt động của một bộ phận hoạc toàn đơn vị được kiểm toán.

Đối tượng của kiểm toán hoạt động rất đa dạng, từ việc đánh giá một phương án kinh doanh, một dự án, một quy trình công nghệ, một công trình XDCB, một loại tài sản, thiết bị mới vào hoạt động hay việc luân chuyển chứng từ trong đơn vị … Vì thế, khó có thể đưa ra các chuẩn mực cho loại kế toán này. Đồng thời, tính hữu hiệu và hiệu quả của quá trình hoạt động rất khó được đánh giá một cách khách quan so với tính tuân thủ và tính trung thực, hợp lý của BCTC.Thay vào đó, việc xây dựng các chuẩn mực làm cơ sở đánh giá thông tin có tính định tính trong một cuộc kiểm toán hoạt độnglà việc mang nặng tính chủ quan.

Trong kiểm toán hoạt động, việc kiểm tra thường vượt khỏi phạm vi công tác kế toán, tài chính mà liên quan đến nhiều lĩnh vực. Kiểm toán hoạt động phải sử dụng nhiều biện pháp, kỹ năng nghiệp vụ và phân tích, đánh giá khác nhau.Báo cáo kết quả kiểm toán thường là bản giải trình các nhận xét, đánh giá, kết luận và ý kiến đề xuất cải tiến hoạt động.

Chuẩn mực là thước đo: đa dạng phù hợp với thông tin được kiểm toán, không có chuẩn mực chung và việc lựa chọn chuẩn mực dựa vào ý kiến chủ quan cũng như kinh nghiệm của kiểm toán viên.

Kết quả kiểm toán: phục vụ cho các doanh nghiệp được kiểm toán và cho chính bản thân doanh nghiệp.

2.1.2 Kiểm toán tuân thủ:

Là việc KTV hành nghề, DNKT, chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến về việc tuân thủ pháp luật, quy chế, quy đĩnh mà đơn vị được kiểm toán phải thực hiện. Ví dụ:

- Kiểm toán việc tuân thủ các luật thuế ở đơn vị.

- Kiểm toán của các cơ quan nhà nước đối với DNNN, đơn vị có sử dụng kinh phí NSNN về việc chấp hành các chính sách, chế độ về tài chính, kế toán.

- Kiểm toán việc chấp hành các điều khoản của hợp đồng tín dụng đối với đơn vị sử dụng vốn vay của ngân hàng.

- Các chuẩn mực để đánh giá: các văn bản pháp luật, các quy định hiện hành.

- Các chủ thể tham gia làm kiểm toán nhà nước và kiểm tra nội bộ là chủ yếu.

- Kết quả kiểm toán phục vụ cho các cấp có thẩm quyền liên quan và, Giám đốc.

2.1.3. Kiểm toán báo cáo tài chính:

Là việc KTV hành nghề, DNKT, chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra các ý kiến về tính trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu của báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán theo quy định của chuẩn mực kiểm toán.

Công việc của BCTC thường do các DNKT thực hiện để phục vụ cho các nhà quản lý, Chính phủ, các ngân hàng và nhà đầu tư, cho người bán, người mua. Do đó kiểm toán BCTC là hình thức chủ yếu, phổ cập và quan trọng nhất, thường chiếm 70-80% công việc của DNKT.

Là việc kiểm tra và đưa ra nhận xét về tính trung thực hợp lý của báo cáo tài chính của đơn vị nào đó.

- Đối tượng là các báo cáo tài chính:

+ Bảng cân đối tài sản

+ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

+ Thuyết minh báo cáo tài chính

+ Bảng cân đối tài khoản

Chuẩn mực để đánh giá: Lấy các chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán hiện hành.

Kết quả kiểm toán phục vụ cho những người sử dụng báo cáo tài chính cho bên thứ 3 đó là ngân hàng, bạn hàng, cổ đông.

2.2. Căn cứ vào hình thức tổ chức, kiểm toán có 3 loại:

2.2.1. Kiểm toán độc lập:

Là công việc của kiểm toán được thực hiện bởi các KTV chuyên nghiệp, độc lập làm việc trong các DNKT. Kiểm toán độc lập là loại hình dịch vụ nên chỉ được tực hiện khi khách hàng có yêu cầu và đồng ý trả phí thông qua việc ký kết hợp đồng kinh tế.

Hoạt động kiểm toán độc lập là nhu cầu cần thiết, trước hết vì lợi ích của bản thân doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong và ngoài nước, lợi ích của chủ sở hữu vốn, các chủ nợ, lợi ích và yêu cầu của Nhà nước. Người sử dụng kết quả kiểm toán phải được đảm bảo rằng những thông tin họ được cung cấp là trung thực, khách quan, có độ tin cậy cao để làm căn cứ cho các quyết định kinh tế hoặc thực thi trách nhiệm quản lý, giám sát của mình.

Khoản 1, Điều 5 Luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12 được Quốc hội thông qua ngày 29/03/2011 (sau đây gọi tắt là Luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12) có hiệu lực từ ngày 01/01/2012 quy định “ Kiểm toán độc lập là việc KTV hành nghề, DNKT, chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến độc lập của mình về báo cáo tài chính và công việc kiểm toán khác theo hợp đồng kiểm toán”.

2.2.2. Kiểm toán nhà nước:

Là công việc kiểm toán được thực hiện bởi các KTV làm việc trong cơ quan Kiểm toán Nhà nước, là tổ chức kiểm toán chuyên nghiệp thuộc bộ máy hành chính nhà nước; Là kiểm toán theo luật định và kiểm toán tính tuân thủ, chủ yếu phục vụ việc Kiểm tra và giám sát của Nhà nước trong quản lý, sử dụng Ngân sách, tiền và tài sản của Nhà nước.

Điều 13, 14 Luật Kiểm toán Nhà nước (Luật số 37/2005/QH11 do Quốc hội thông qua ngày 14/06/2005) quy định “Kiểm toán Nhà nước là cơ quan chuyên môn về lĩnh vực kiểm tra tài chính nhà nước do Quốc hội thành lập”. Kiểm toán Nhà nước có chức năng kiểm toán BCTC, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động đối với cơn quan, tổ chức quản lý, sử dụng ngân sách,tiền và tài sản Nhà nước”. Trong đó:

- Kiểm toán báo cáo tài chính là loại hình kiểm toán để kiểm tra, đánh giá, xác nhận tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính.

- Kiểm toán tuân thủ là loại hình kiểm toán để kiểm tra, đánh giá và xác nhận việc tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế mà đơn vị được kiểm toán phải thực hiện.

- Kiểm toán hoạt động là loại hình kiểm toán để kiểm tra, đánh giá tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý và sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước.

2.2.3. Kiểm toán nội bộ:

Là công việc kiểm toán do các KTV của đơn vị tiến hành. Kiểm toán nội bộ chủ yếu để đánh giá về việc thực hiện pháp luật vả quy chế nội bộ; kiểm tra tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ và việc thực thi công tác kế toán, tài chính… của đơn vị.

Phạm vi và mục đích của kiểm toán nội bộ rất linh hoạt tùy thuộc yêu càu quản lý điều hành của ban lãnh đạo đơn vị. Báo cáo kiểm toán nội bộ chủ yếu phục vụ cho chủ doanh nghiệp, không có giá trị pháp lý và chủ yếu xoay quanh việc kiểm tra và đành giá tính hiệu lực và tính hiệu quả của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ cũng như chất lượng thực thi trong những trách nhiệm được giao .

3. Kiểm toán viên và kiểm toán viên hành nghề

Công việc kiểm toán độc lập do các KTV ( KTV) và KTV hành nghề thực hiện. Luật kiểm toán độc lập số 67/2011/QH 12 ( khoản 2 và 3 Điều 5) quy định rõ về KTV và KTV hành nghề:

Kiểm toán viên là người được cấp chứng chỉ KTV theo quy định của pháp luật hoặc người có chứng chỉ của nước ngoài được Bộ tài chính công nhận và đạt kỳ thi sát hạch về pháp luật Việt Nam.

Kiểm toán viên hành nghề là KTV đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hành nghề kiểm toán.

3.1. Tiêu chuẩn kiểm toán viên: (Điều 14 luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12)

3.1.1. Kiểm toán viên phải có đủ các tiêu chuẩn sau đây:

Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức trách nhiệm, liêm khiết, trung thực, khách quan;

Có bằng tốt nghiệp đại học chở lên thuộc chuyên nghành tài chính, ngân hàng, kế toán, kiểm toán hoặc chuyên nghành khác theo quy định của Bộ tài chính;

Có chứng chỉ KTV theo quy định của Bộ tài chính.

3.1.2. Trường hợp người có chứng chỉ của nước ngoài được Bộ tài chính công nhận, đạt kỳ thi sát hạch bằng tiếng việt về pháp luật Việt Nam và có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức trách nhiệm, liêm khiết, trung thực, khách quan thì được công nhận là KTV.

3.2.Đăng ký hành nghề kiểm toán: (Điều 15 Luật kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12)

3.2.1. Người có đủ các điều kiện sau đây được đăng ký hành nghề kiểm toán:

Là kiểm toán viên;

Có thời gian thực tế làm kiểm toán từ đủ ba mươi sáu tháng chở lên;

Tham gia đầy đủ chương trình cập nhật kiến thức.

3.2.2. Người có đủ các điều kiện sau đây được dăng ký hành nghề kiểm toán và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hành nghề kiểm toán theo quy định của Bộ Tài chính.

3.2.3. Giấy chứng nhận đăng ký hành nghề kiểm toán chỉ có giá trị khi người được cấp có hợp đồng lao động làm toàn bộ thời gian cho một DNKT, chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam.

3.2.4. Trong thời hạn 3 năm, kể từ ngày luật kiểm toán độc lập có hiệu lực, người đã được cấp chứng chỉ KTV trước ngày luật kiểm toán độc lập có hiệu lực được đăng ký hành nghề luật kiểm toán theo quy định của luật kiểm toánđộc lập mà không cần bảo đảm điều kiện về thời gian thực tế làm kiểm toán từ đủ ba mươi sáu tháng trở lên.

3.3. Những người không được đăng ký hành nghề kiểm toán (Điều 16 Luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12)

Cán bộ, công chức, viên chức.

Người đang bị cấm hành nghề kiểm toán theo bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật; người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; người đã bị kết án một trong các tội về kinh tế, chức vụ liên quan đến tài chính, kế toán mà chưa được xóa án; người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã , phường , thị trấn, đưa vào cơ sở chữa bệnh, đưa vào cơ sở giáo dục.

Người có tiền án về tội kinh tế từ nghiêm trọng chở lên.

Người có hành vi vi phạm pháp luật về tài chính kế toán, kiểm toán và quản lý kinh tế bị xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 1 năm, kể từ ngày có quyết định xử phạt.

Người bị đình chỉ hành nghề kiểm toán.

4. Hình thức tổ chức của DNKT, chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam (Luật kiểm toán độc lập 67/2011/QH12)

4.1 Các loại DNKT và chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam (Điều 20 Luật kiểm toán độc lập 67/2011/QH12)

Công tác kiểm toán độc lập do các KTV độc lập thực hiện. Theo thông lệ quốc tế, KTV có thể hành nghề theo công ty hoặc hành nghề cá nhân. Tuy nhiên ở Việt Nam luật pháp chưa cho phép hành nghề kiểm toán cá nhân. KTV muốn hành nghề phải đăng ký và được chấp nhận vào làm việc tại một DNKT được thành lập hợp pháp.

- Theo quy định tại Điều 20 Luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12 ngày 29/03/2011 thì các loại doanh nghiệp sau đây được kinh doanh dịch vụ kiểm toán: Công ty TNHH 2 thành viên trở lên; công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân; DNKT phải công khai hình thức này trong quá trình giao dịch và hoạt động.

- Chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam được kinh doanh dịch vụ kiểm toán theo quy định của pháp luật.

- Doanh nghiệp, chi nhánh doanh nghiệp không đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán thì không được sử dụng cụm từ “kiểm toán” trong tên gọi.

- DNKT không được góp vốn để thành lập DNKT khác, trừ trường hợp góp vốn với DNKT nước ngoài để thành lập DNKT tại Việt Nam.

Các doanh nghiệp sau khi thành lập, chỉ được kinh doanh dịch vụ kiểm toán khi có đủ điều kiện và được bộ tài chính cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán.

DNKT TNHH một thành viên có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật trước ngày Luật Kiểm toán độc lập có hiệu lực được phép hoạt động theo hình thức công ty TNHH một thành viên đến hết thời hạn của Giấy chứng nhận đầu tư hoặc Giấy phép đầu tư.

4.2 Doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài (Điều 36 Luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12 ngày 29/03/2011)

Doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài thực hiện hoạt động kiểm toán tại việt nam dưới các hình thức sau:

- Góp vốn Doanh nghiệp kiểm toán đã được thành lập và hoạt động tại Việt Nam để thành lập DNKT;

- Thành lập chi nhánh Doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài;

- Cung cấp dịch vụ kiểm toán qua biên giới theo quy định của chính phủ.

4.3 Chi nhánh của doanh nghiệp kiểm toán (Điều 31 Luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12 ngày 29/03/2011)

4.3.1.Điều kiện để chi nhánh của doanh nghiệp kiểm toán được kinh doanh dịch vụ kiểm toán:

Doanh nghiệp kiểm toán có đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán theo quy định tại điều 21 của Lật này;

Chi nhánh có ít nhất hai KTV hành nghề, trong đó có Giám đốc chi nhánh. Hai KTV hành nghề không được đồng thời là KTV đăng ký hành nghề tại trụ sở chính hoặc chi nhánh khác của doanh nghiệp kiểm toán.

Được sự chấp thuận bằng văn bản của Bộ Tài Chính.

4.3.2. Chi nhánh của doanh nghiệp kiểm toán không bảo đảm điều kiện quy định tại khoản 1 mục này sau ba tháng liên tục thì bị đình chỉ kinh doanh dịch vụ kiểm toán.

4.3.3. Trường hợp DNKT bị đình chỉ kinh doanh dịch vụ kiểm toán thì các chi nhánh của DNKT đó cũng bị đình chỉ kinh doanh dịch vụ kiểm toán.

4.4 Cơ sở của doanh nghiệp kiểm toán ở nước ngoài

Doanh ngiệp kiểm toán được thành lập cơ sở kinh doanh dịch vụ kiểm toán ở nước ngoài theo quy định của pháp luật về đầu tư của Việt Nam và pháp luật của nước tại.

Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày thành lập hoặc chấm dứt hoạt động của cơ sở kinh doanh dịch vụ kiểm toán ở nước ngoài, doanh nghiệp kiểm toán phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao tài liệu về thành lập hoặc chấm dứt hoạt động của cơ sở cho Bộ Tài Chính.

4.5 Tạm ngừng kinh doanh dịch vụ kiểm toán

Doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam được tạm ngừng kinh doanh dịch vụ kiểm toán nhưng tạm thời hạn tạm ngừng không quá mười hai tháng liên tục.

Doanh nghiệp kiểm toán tạm ngưng kinh doanh dịch vụ kiểm toán thì các chi nhánh của doanh nghiệp kiểm toán đó cũng phải tạm ngừng kinh doanh dịch vụ kiểm toán.

Doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam tạm ngừng kinh doanh dịch vụ kiểm toán mà chưa hoàn thành hợp đồng kiểm toán đã ký với khách hàng thì phải thỏa thuận với khách hàng về việc thực hiện hợp đồng đó.

Khi hoạt động trở lại, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam phải đảm bảo điều kiện theo quy định của pháp luật và phải thông báo bằng văn bản của Bộ Tài chính chậm nhất là mười ngày trước ngày hoạt động trở lại.

4.6 Chấm dứt kinh doanh dịch vụ kiểm toán

4.6.1. Doanh nghiệp kiểm toán chấm dứt kinh doanh dịch vụ kiểm toán trong các trường hợp sau đây:

Tự chấm dứt

Bị chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, giải thể;

Bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký linh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Giấy chứng nhận đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán;

Giám đốc doanh nghiệp tư nhân chết;

Trường hợp khách theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp.

4.6.2. Chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam chấm dứt kinh doanh dịch vụ kiểm toán trong các trường hợp sau đây:

Theo quyết định của doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài đã thành lập chi nhánh;

Theo quy định tại điểm đ khoản 1 điều này.

4.6.3. Trường hợp chấm dứt kinh doanh dịch vụ kiểm toán theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này, doanh nghiệp kiểm toán phải thông báo bằng văn bản cho Bộ Tài chính chậm nhất là ba mươi ngày trước ngày chấm dứt.

4.6.4. Bộ Tài chính quy định cụ thể về thủ tục chấm dứt kinh doanh dịch vụ kiểm toán.

4.7 Chấm dứt hoạt động của chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán

4.7.1. Chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán chấm dứt hoạt động trong các trường hợp sau đây:

Theo quyết định của doanh nghiệp kiểm toán đã thành lập chi nhánh;

Doanh nghiệp kiểm toán đã thành lập chi nhánh chấm dứt hoạt động;

Trường hợp khác theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp.

4.7.2. Doanh nghiệp kiểm toán có các quyền. Thực hiện nghĩa vụ của chi nhánh và giải quyết các vấn đề liên quan đến việc chấm dứt hoạt động của chi nhánh.

5. Điều kiện cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán (Điều 21 luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12 ngày 29/03/2011 và Điều 5,6,7 Nghị định 17/2012/NĐ-CP ngày 13/3/2012 có hiệu lực từ 01/5/2012 (sau đây gọi tắt là NĐ 17/2012/NĐ-CP)

Để được kinh doanh dịch vụ kiểm toán thì từng loại hình DNKT phải thỏa mãn các điều kiện theo quy định như sau:

5.1. Công ty TNHH hai thành viên chở lên khi đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán phải có đủ các điều kiện sau đây (Khoản 1 điều 21 Luật kiểm toán độc lập):

Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy chứng nhận đầu tư theo quy định của pháp luật;

Có ít nhất năm KTV hành nghề, trong đó tối thiểu phải có hai thành viên góp vốn;

Người đại diện theo pháp luật, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc của công ty TNHH phải là KTV hành nghề;

Bảo đảm vốn pháp định theo quy định của Chính phủ;

Phần góp vốn của thành viên là tổ chức không được vượt quá mức do chính phủ quy định. Người đại diện của thành viên là tổ chức phải là KTV hành nghề.

* Nghị định số 17/2012/NĐ-CP (Điều 5, điều 6, điều 7) quy định về vốn pháp định, thành viên là tổ chức và mức vốn góp của KTV hành nghề đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên như sau:

- Vốn pháp định đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên:

+ Vốn pháp định đối với Công ty TNHH là 3 (ba) tỷ đồng Việt Nam; từ ngày 01/01/2015 vốn pháp định là 5 (năm) tỷ đồng Việt Nam.

+ Trong quá trình hoạt động, công ty TNHH phải luôn duy trì vốn chử sở hữu trên bảng cân đối kế toán không thấp hơn vốn pháp định là 3 tỷ đồng và 5 tỷ đồng từ ngày 01/01/2015. DNKT phải bổ sung vốn chủ sở hữu trên bảng cân đối kế toán thấp hơn mực vốn pháp định trong thời gian 3 tháng kể từ ngày kết thúc năm tài chính.

-Thành viên là tổ chức của Công ty TNHH hai thành viên trở lên:

+ Thành viên là tổ chức được góp tối đa 35% vốn điều lệ của công ty TNHH kiểm toán hai thành viên trở lên. Trường hợp có nhiều tổ chức góp vốn thì tổng số vốn góp của các tổ chức tối đa bằng 35% vốn điều lệ của công ty TNHH kiểm toán hai thành viên trở lên.

+ Thành viên là tổ chức phải cử một người làm đại diện cho tổ chức vào Hội đồng thành viên.Người đại diện của thành viên là tổ chức phải là KTV và phải đăng ký hành nghề tại DNKT mà tổ chức tham gia góp vốn.

+ KTV hành nghề là người đại diện của thành viên là tổ chức không được tham gia góp vốn vào DNKT đó với tư cách cá nhân.

-Mức góp vốn của KTV hành nghề:

+ Công ty TNHH kiểm toán phải có ít nhất 2 (hai) thành viên góp vốn KTV đăng ký hành nghề tại công ty.Vốn góp của các KTV hành nghề phải chiếm trên 50% vốn điều lệ của công ty.

+ KTV hành nghề không được đồng thời là thành viên góp vốn của hai DNKT trở lên.

5.2. Công ty hợp danh khi đề nghị cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán phải có đủ các điều kiện sau đây (khoản 2 điều 21 Luật Kiểm toán độc lập):

Có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy chứng nhận đầu tư theo quy định của pháp luật;

Có ít nhất năm KTV hành nghề, trong đó tối thiểu phải có hai thành viên hợp danh;

Người đại diện theo pháp luật, Giám đốc, hoặc Tổng Giám đốc của công ty hợp danh phải là KTV hành nghề;

5.3. Doanh nghiệp tư nhân khi đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán phải có đủ các điều kiện sau đây (Khoản 3 điều 21 Luật kiểm toán độc lập):

Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Giấy chứng nhận đầu tư theo quy định của pháp luật;

Có ít nhất năm KTV hành nghề, trong đó có chủ doanh nghiệp tư nhân;

Chủ doanh nghiệp tư nhân đồng thời là Giám đốc.

5.4. Chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam khi đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán phải có đủ các điều kiện sau đây (khoản 4 Điều 21 Luật Kiểm toán độc lập):

DNKT nước ngoài được phép cung cấp dịch vụ kiểm toán độc lập theo quy định của pháp luật của nước nơi DNKT nước ngoài đặt trụ sở chính;

Có ít nhất hai KTV hành nghề, trong đó có Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc chi nhánh;

Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc chi nhánh DNKT nước ngoài không được giữa chức vụ quản lý, điều hành doanh nghiệp khác tại Việt Nam;

DNKT nước ngoài phải có văn bản gửi bộ tài chính bảo đảm chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ và cam kết của chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam;

DNKT nước ngoài phải đảm bảo duy trì vốn không thấp hơn mức vốn pháp định theo quy định của chính phủ.

* Nghị định số 17/2012/NĐ-CP (điều 8) quy định về vốn tối thiểu của DNKT nước ngoài và vốn được cấp của chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam như sau:

- DNKT nước ngoài đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán cho chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam phải có vốn chủ sở hữu trên bảng cân đối kế toán tại thời điểm kết thúc năm tài chính gần nhất với thời điểm đề nghị cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán cho chi nhánh tối thiểu tương đương 500.000 (năm trăm nghìn) đô la Mỹ.

- Vốn được cấp của chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam không thấp hơn mức vốn pháp định đối với công ty TNHH là 3 (ba) tỷ đồng Việt Nam, từ ngày 01/01/2015 là 5 (năm) tỷ đồng Việt Nam.

- Trong quá trình hoạt động DNKT nước ngoài phải duy trì vốn chủ sở hữu trên bảng cân đối kế toán và vốn được cấp của chi nhánh tại Việt Nam không thấp hơn mức vốn 500.000 đô la mỹ. DNKT nước ngoài, chi nhánh DNKT nước ngoài phải bổ sung vốn nếu vốn chủ sở hữu trên bảng cân đối kế toán của DNKT nước ngoài và của chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam thấp hơn mức vốn 500.000 đô la Mỹ trong thời gian 3 tháng kể từ ngày kết thúc năm tài chính.

5.5. Trong thời hạn sáu tháng, kể từ ngày dăng ký kinh doanh dịch vụ kiểm toán mà DNKT, chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam không được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán thì phải làm thủ tục xóa nghành nghề kinh doanh dịch vụ kiểm toán.

5.6. Trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật kiểm toán độc lập có hiệu lực, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kiểm toán trước ngày Luật kiểm toán độc lập có hiệu lực bảo đảm các điều kiện theo quy định của Luật kiểm toán độc lập và NĐ 17/2012/NĐ-CP được cấp Giấy chứng nhận đủ đều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán.

6. Hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán (Điều 22 Luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12 ngày 29/03/2011), gồm có:

Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán;

Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Giấy chứng nhận đầu tư;

Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký hành nghề kiểm toán của KTV hành nghề;

Hợp đồng lao động làm toàn bộ thời gian của các KTV hành nghề;

Tài liệu chứng minh về vốn góp đối với công ty TNHH;

Các giấy tờ khác do Bộ tài chính quy định.

7. Đình chỉ kinh doanh dịch vụ kiểm toán và thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán (Điều 27 Luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12 ngày 29/03/2011)

7.1. DNKT, chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam bị đình chỉ kinh doanh dịch vụ kiểm toán khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

Hoạt động không đúng phạm vi hoạt động của DNKT;

Không đảm bảo một trong các điều kiện quy định về cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán trong ba tháng liên tục;

Có sai phạm nghiêm trọng về chuyên môn hoặc vi phạm chuẩn mực kiểm toán, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán.

7.2. DNKT, chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam bị thu hồi GIấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

Kê khai không đúng thực tế hoặc gian lận, giả mạo hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán;

Không kinh doanh dịch vụ kiểm toán trong mười hai tháng liên tục:

Không khắc phục được các vi phạm dẫn đến việc bị đình chỉ kinh doanh dịch vụ kiểm toán trong thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày bị đình chỉ;

Bị giải thể, phá sản hoặc tự chấm dứt kinh doanh dịch vụ kiểm toán;

Bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Giấy chứng nhận đầu tư;

DNKT nước ngoài có chi nhánh kiểm toán tại Việt Nam bị giải thể, phá sản hoặc bị cơ quan có thẩm quyền của nước nơi DNKT đó đặt trụ sở chính thu hồi giấy phép hoặc đình chỉ hoạt động.

Có hành vi vi phạm quy định về cố tình xác nhận báo cáo tài chính có gian lận, sai sót hoặc thông đồng, móc nối để làm sai lệch tài liệu kế toán, hồ sơ kiểm toán và cung cấp thông tin, số liệu báo cáo sai sự thật; và giả mạo, tẩy xóa, sửa chữa, Giấy chứng nhận đăng ký hành nghề kiểm toán và Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán.

7.3. Doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam bị thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán phải chấm dứt việc kinh doanh dịch vụ kiểm toán, kể từ ngày quyết định thu hồi có hiệu lực thi hành.

7.4. Bộ Tái chính quy định chi tiết việc đình chỉ kinh doanh dịch vụ kiểm toán, thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán và công bố quyết định đình chỉ kinh doanh dịch vụ kiểm toán, thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán trong thời hạn bảy ngày trên trang thong tin điện tử của Bộ Tài chính.

8. Các trường hợp DNKT, chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam không được thực hiện kiểm toán (Điều 30 Luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12 và Điều 9 NĐ 17/2012/NĐ-CP)

8.1. DNKT, chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam đang thực hiện hoặc đã thực hiện trong năm trước liền kề một trong các dịch vụ sau cho đơn vị được kiểm toán:

Công việc ghi sổ kế toán, lập báo cáo tài chính;

Thực hiện dịch vụ kiểm toán nội bộ;

Thiết kế và thực hiện các thủ tục kiểm soát nội bộ;

Các dịch vụ khác có ảnh hưởng đến tính độc lập của KTV hành nghề và DNKT, chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam theo quy của chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán.

8.2. Thành viên tham gia cuộc kiểm toán, người có trách nhiệm quản lý,điều hành,thành viên Ban kiểm soát, kế toán trưởng ( hoặc phụ trách kế toán) của DNKT, chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam là thành viên, cổ đông sáng lập hoặc đang nắm giữ cổ phiếu, góp vốn vào đơn vị được kiểm toán hoặc có quan hệ kinh tế, tài chính khác với đơn vị đươc kiểm toán theo quy định của chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán.

8.3. Người có trách nhiệm quản lý, điều hành, thành viên Ban kiểm soát, kế toán trưởng (hoặc phụ trách kế toán ) của DNKT, chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam có bố, mẹ, vợ, chồng,con, anh, chị, em ruột là thành viên, cổ đông sáng lập hoặc nắm giữ cổ phiếu, góp vốn và nắm giữ 20% quyền biểu quyết trở lên đối với đơn vị được kiểm toán hoặc là người có trách nhiệm quản lý, điều hành, thành viên ban kiểm soát, kiểm soát viên, kế toán trưởng (hoặc phụ trách kế toán) của đơn vị được kiểm toán.

8.4. Người có trách nhiệm quản lý, điều hành, thành viên ban kiểm soát, kiểm soát viên, kế toán trưởng (hoạc phụ trách kế toán) của đơn vị được kiểm toán, đồng thời là người góp vốn và nắm giữ từ 20% quyền biểu quyết trở lên đôi với DNKT, chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam.

DNKT, chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam và đơn vị kiểm toán có các mối quan hệ sau:

Có cùng một cá nhân hoặc doanh nghiệp, tổ chức thành lập hoặc tham gia thành lập;

Cùng trực tiếp hay gián tiếp chịu sự điều hành, kiểm soát, góp vốn dưới mọi hình thức của một bên khác;

Được điều hành hoặc chịu sự kiểm soát về nhân sự, tài chính và hoạt động kinh doanh bởi các cá nhân thuộc một trong các quan hệ sau: vợ và chồng; bố, mẹ và con; (không phân biệt con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể); anh, chị, em có cùng cha, mẹ (không phân biệt cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi); ông nội, bà nội và cháu nội; ông ngoại, bà ngoại và cháu ngoại; cô, chú, cậu, dì ruột và cháu ruột;

Có thỏa thuận hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng;

Cùng là công ty hoặc pháp nhân thuộc cùng một mạng lưới theo quy định của chuẩn mực kiểm toán;

8.6. Đơn vị kiểm toán đã thực hiện trong năm trước hoặc liền kề hoặc đang thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính hoặc các dịch vụ kiểm toán khác cho chính DNKT, chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam.

8.7. Đơn vị kiểm toán là tổ chức góp vốn vào DNKT; Đơn vị được kiểm toán là công ty mẹ, các công ty con, công ty liên kết, công ty liên doanh, đơn vị cấp trên, đơn vị cấp dưới, công ty cùng tập đoàn của tổ chức góp vốn vào DNKT.

8.8. DNKT tham gia trực tiếp hoặc giám tiếp vào việc điều hành, kiểm doát, góp vốn dưới mọi hình thức vào đơn vị được kiểm toán.

8.9. Trường hợp khác theo chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán và quy định của pháp luật.

9. Kiểm toán bắt buộc ( Điều 9 và khoản 1, khoản 2 Điều 37 Luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12 và Điều 156 ND 17/2012/NĐ-CP)

Kiểm toán bắt buộc là kiểm toán đối với báo cáo tài chính hành năm, báo cáo quyết toán dự án hoàn thành và các thông tin tài chính khác của đơn vị được kiểm toán bao gồm:

9.1. Doanh nghiệp, tổ chức mà pháp luật quy định báo cáo tài chính hàng năm phải được DNKT, chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam kiểm toán bao gồm:

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài;

Tổ chức tín dụng được thành lập và hoạt động theo Luật của các tổ chức tín dụng, bao gồm cả chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam;

Tổ chức tài chính, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nước ngoài.

Công ty đại chúng, tổ chức phát hành và tổ chức kinh doanh chứng khoán.

9.2. Các doanh nghiệp, tổ chức khác bắt buộc phải kiểm toán theo quy định của pháp luật có liên quan.

9.3. Doanh nghiệp, tổ chức phải được DNKT, chi nhánh DNKT nước ngoài tài Việt Nam kiểm toán, bao gồm:

Doanh nghiệp nhà nước, trừ doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực thuộc bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật phải được kiểm toán đối với báo cáo tài chính hàng năm;

Doanh nghiệp, tổ chức thực hiện dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A sử dụng vốn nhà nước, trừ các dự án trong lĩnh vực thuộc bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật phải được kiểm toán đối với báo cáo quyết toán dự án hoàn thành;

Doanh nghiệp, tổ chức mà các tập đoàn, tổng công ty nhà nước nắm giữ từ 20% quyền biểu quyết trở lên tại thời điểm cuối năm tài chính phải được kiểm toán đối với báo cáo tài chính hàng năm;

Doanh nghiệp mà các tổ chức niêm yết, tổ chức phát hành và tổ chức kinh doanh chứng khoán nắm giữ 20% quyền biểu quyết trở lên tại thời điểm cuối năm báo cáo tài chính phải được kiểm toán đối với báo cáo tài chính hàng năm;

DNKT, chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam phải được kiểm toán đối với báo cáo tài chính hàng năm.

10. Quản lý nhà nước về hoạt động kiểm toán độc lập: (Điều 11 Luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12)

Quy định nội dung quản lý nhà nước về hoạt động kiểm toán độc lập, gồm:

10.1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động kiểm toán độc lập.

10.2. Bộ Tài chính chịu trách nhiệm trước chính phủ thực hiệm quản lý nhà nước về hoạt động kiểm toán độc lập, có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

- Xây dựng, trình quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về kiểm toán độc lập;

- Xây dựng, trình chính phủ quyết định chiến lược và chính sách phát triển hoạt động kiểm toán độc lập;

- Quy định điều kiện dự thi, việc tổ chức thi để cấp chứng nhận KTV; cấp, thu hồi và quản lý chứng chỉ KTV;

- Quy định mẫu giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán, cấp, cấp lại, điều chỉnh và thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán;

- Đình chỉ kinh doanh dịch vụ kiểm toán;

- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về kiểm toán độc lập;

- Thanh tra, kiểm tra hoạt động thuộc lĩnh vực kiểm toán độc lập của tổ chức nghề nghiệp về kiểm toán;

- Quy định về cập nhật kiến thức cho KTV, KTV hành nghề;

- Quy định về đăng ký và quản lý hành nghề kiểm toán; công khai danh sách DNKT, chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam và KTV hành nghề;

- Quy định về kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán;

- Tổng kết, đánh giá hoạt động kiểm toán độc lập và thực hiện các biện pháp hỗ trợ phát triển hoạt động kiểm toán độc lập;

- Hợp tác quốc tế về kiểm toán độc lập.

10.3. Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tài chính thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động kiểm toán độc lập.

10.4. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm quản lý nhà nước về hoạt động kiểm toán độc lập tại địa phương.

II. QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA KIỂM TOÁN VIÊN HÀNH NGHỀ VÀ DOANH NGHIỆP KIỂM TOÁN, CHI NHÁNH KIỂM TOÁN NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM.

1. Tổng quan về quyền, nghĩa vụ và các quy định khác liên quan đến KTV hành nghề và DNKT, chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam.

1.1. Quyền của KTV hành nghề: (Quyền của KTV hành nghề (Điều 17 Luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12) Khi hành nghề tại DNKT, chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam, KTV hành nghề có các quyền sau đây:

Hành nghề kiểm toán theo quy định của Luật Kiểm toán độc lập.

Độc lập về chuyên môn nghiệp vụ.

Yêu cầu đơn vị được kiểm toán cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu cần thiết và giải trình các vấn đề có liên quan đến nội dung kiểm toán; yêu cầu kiểm kê tài sản, đối chiếu công nợ của đơn vị được kiểm toán liên quan đến nội dung kiểm toán; kiểm tra toàn bộ hồ sơ, tài liệu có liên quan đến hoạt động kinh tế, tài chính của đơn vị được kiểm toán ở trong và ngoài đơn vị trong quá trình thực hiện kiểm toán;

Kiểm tra, xác nhận các thông tin kinh tế, tài chính có liên quan đến đơn vị được kiểm toán ở trong và ngoài đơn vị trong quá trình thực hiện kiểm toán.

Yêu cầu tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu, thông tin cần thiết có liên quan đến nội dung kiểm toán thông qua đơn vị được kiểm toán.

Quyền khác theo quy định của pháp luật.

1.2. Nghĩa vụ của kiểm toán viên hành nghề: Khi hành nghề tại doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam, kiểm toán viên hành nghề có các nghĩa vụ sau đây:

Tuân thủ nguyên tắc hoạt động kiểm toán độc lập;

Không can thiệp vào hoạt động của khách hàng, đơn vị được kiểm toán trong quá trình thực hiện kiểm toán;

Từ chối thực hiện kiểm toán trong trường hợp khách hàng, đơn vị được kiểm toán có yêu cầu trái với đạo đức nghề nghiệp, yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ hoặc trái với quy định của pháp luật;

Tham gia đầy đủ chương trình cập nhật kiến thức hàng năm;

Thường xuyên trau dồi kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp;

Thực hiện kiểm toán, soát xét hồ sơ kiểm toán hoặc ký báo cáo kiểm toán và chịu trách nhiệm về báo cáo kiểm toán và hoạt động kiểm toán của mình;

Báo cáo định kỳ, đột xuất về hoạt động kiểm toán của mình theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

Tuân thủ quy định của Luật này và pháp luật của nước sở tại trong trường hợp hành nghề kiểm toán ở nước ngoài;

Chấp hành yêu cầu về kiểm tra, kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán theo quy định của Bộ Tài chính;

Nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

2. Các trường hợp KTV hành nghề không được thực hiện kiểm toán

Kiểm toán viên hành nghề không được thực hiện kiểm toán trong các trường hợp sau đây:

Là thành viên, cổ đông sáng lập hoặc mua cổ phần, góp vốn vào đơn vị được kiểm toán;

Là người giữ chức vụ quản lý, điều hành, thành viên ban kiểm soát hoặc là kế toán trưởng của đơn vị được kiểm toán;  

Là người đã từng giữ chức vụ quản lý, điều hành thành viên ban kiểm soát, kế toán trưởng của đơn vị được kiểm toán cho các năm tài chính được kiểm toán;

Là người đang thực hiện hoặc đã thực hiện trong năm trước liền kề dịch vụ khác với các dịch vụ quy định tại khoản 5 Điều này có ảnh hưởng đến tính độc lập của kiểm toán viên hành nghề theo quy định của chuẩn mực nghề nghiệp kế toán, kiểm toán;

Có bố, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em ruột là người có lơi ích tài chính trực tiếp hoặc gián tiếp đáng kể trong đơn vị được kiểm toán theo quy định của chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán hoặc là người giữ chức vụ quản lý, điều hành, thành viên ban kiểm soát, kế toán trưởng của đơn vị được kiểm toán;

Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

III. DOANH NGHIỆP KIỂM TOÁN

1. Các loại doanh nghiệp kiểm toán và chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam

1.1. Các loại doanh nghiệp sau đây được kinh doanh dịch vụ kiểm toán:

Công ty TNHH hai thành viên trở lên;

Công ty hợp danh;

Doanh nghiệp tư nhân.

1.2. Chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt nam được kinh doanh dịch vụ kiểm toán theo quy định của pháp luật

1.3. Doanh nghiệp, chi nhánh doanh ngiệp không đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán thì không được sử dụng cụm từ “kiểm toán” trong tên gọi.

1.4. Doanh nghiệp kiểm toán không được góp vốn để thành lập doanh nghiệp kiểm toán khác, trừ trường hợp góp vốn với doanh nghiệp kiêm toán nước ngoài để thành lập doanh nghiệp kiểm toán tại Việt Nam.

2. Thời hạn cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ tài chính cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán cho doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam; trường hợp từ chối, Bộ tài chính phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Trường hợp cần làm rõ vấn đề liên quan đến hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán, Bộ tài chính yêu cầu doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam đề nghị cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán giải trình.

3. Cấp lại, điều chỉnh Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán

3.1. Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán được cấp lại hoặc điều chỉnh trong các trường hợp sau đây:

Có sự thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán;

Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán bị mất hoặc bị hư hỏng;

Chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi hình thức sở hữu.

3.2. Hồ sơ đề nghị cấp lại, điều chỉnh giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán gồm có:

Đơn đề nghị cấp lại, điều chỉnh Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán.

Bản gốc Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán đã được cấp, trừ trường hợp không còn bản gốc;

Các tài liệu khác liên quan đến việc cấp lại, điều chỉnh Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán.

3.3. Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ tài chính cấp lại, điều chỉnh giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán; trường hợp từ chối, Bộ Tài chính phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

4. Lệ phí cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán

Doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam đề nghị cấp, cấp lại, điều chỉnh Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán phải nộp lệ phí.

Bộ trưởng Bộ tài chính quy định mức lệ phí cấp, cấp lại, điều chỉnh Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán.

5. Những thay đổi phải thông báo cho Bộ Tài chính

Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày có thay đổi về những nôi dung sau đây, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam phải thông báo bằng văn bản cho Bộ Tài chính:

- Danh sách kiểm toán viên hành nghề;

- Không đảm bảo môt trong các điều kiện quy định tại Điều 21 và Điều 31 của luật này;

- Tên, địa điểm đặt trụ sở chính của doanh nghiệp;

- Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc, người đại diện theo pháp luật, tỷ lệ vốn góp của các thành viên;

- Tạm ngưng kinh doanh dịch vụ kiểm toán;

- Thành lập, chấm dứt lao động hoặc thay đổi tên, địa chỉ đặt trụ sở chi nhánh kinh doanh dịch vụ kiểm toán;

IV. HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP

Phạm vi hoạt động của doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam

1. Doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam được thực hiện các dịch vụ sau đây:

Các dịch vụ kiểm toán, gồm kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán báo cáo quyết toán dự toán dự án hoàn thành, kiểm toán toán báo cáo tài chính vì mục đích thuế và công việc kiểm toán;

Dịch vụ soát xét báo cáo tài chính, thông tin tài chính và dịch vụ bảo đảm khác.

2. Ngoài các dịch vụ quy định tại khoản 1 Điều này, doanh nghiệp kiểm toán được đăng ký thực hiện các dịch vụ sau đây:

Tư vấn kinh tế, tài chính, thuế;

Tư vấn quản lý, chuyển đổi và tái cơ cấu doanh nghiệp;

Tư vấn ứng dụng công nghệ thông tin trong quản trị của doanh nghiệp, tổ chức;

Dịch vụ kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán;

Thẩm định giá tài sản và đánh giá rủi ro kinh doanh;

Dịch vụ bồi dưỡng kiến thức tài chính, kế toán, kiểm toán

Dịch vụ liên quan khác về tài chính, kế toán, thuế theo quy định của pháp luật.

3. Doanh nghiệp đã được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán theo quy định của Luật này được thực hiện dịch vụ kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán mà không phải đăng ký.

4. Khi thực hiện dịch vụ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, doanh nghiệp kiểm toán phải có đủ điều kiện theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

5. Nhận dịch vụ kiểm toán

Doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam chỉ được nhận dịch vụ kiểm toán theo khả năng của mình trong phạm vi yêu cầu của khách hàng.

Khi nhận dịch vụ kiểm toán, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam phải thông báo cho khách hàng về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm nghề nghiệp của mình trong việc thực hiện dịch vụ kiểm toán, giới hạn trách nhiệm tài chính của doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam và kiểm toán viên hành nghề khi xảy ra rủi ro kiểm toán.

Doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam không được chuyển giao dịch vụ kiểm toán mà mình đã giao kết hợp đồng cho doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam khác, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý.

Doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam phải cử người phụ trách đối với mỗi cuộc kiểm toán. Người phụ trách cuộc kiểm toán phải là kiểm toán viên hành nghề. Báo cáo kiểm toán phải có chữ ký của người phụ trách cuộc kiểm toán.

6. Hợp đồng kiểm toán

Doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam thực hiện dịch vụ kiểm toán theo hợp đồng kiểm toán.

Hợp đồng kiểm toán là sự thỏa thuận giữa doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam với khách hàng về việc thực hiện dịch vụ kiểm toán. Hợp đồng kiểm toán được lập thành văn bản và có những nội dung chính sau đây:

- Tên, địa chỉ của khách hàng hoặc người đại diện của khách hàng, đại diện của doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam;

- Mục đích, phạm vi và nội dung dịch vụ kiểm toán, thời hạn thực hiện hợp đồng kiểm toán;

- Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên;

-  Hình thức báo cáo kiểm toán và các hình thức khác thể hiện kết quả kiểm toán như thư quản lý và báo cáo khác;

- Phí dịch vụ kiểm toán và chi phí khác do các bên thỏa thuận.

7. Nghĩa vụ bảo mật

Kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam không được tiết lộ thông tin về hồ sơ kiểm toán, khách hàng, đơn vị được kiểm toán, trừ trường hợp được khách hàng. Đơn vị kiểm toán chấp thuận hoặc theo quy định của pháp luật.

Kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam không được sử dụng thông tin về hồ sơ kiểm toán, khách hàng, đơn vị, được kiểm toán để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công đồng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam phải xây dựng và vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo mật.

Cơ quan nhà nước, tổ chức nghề nghiệp về kiểm toán và cá nhân có liên quan có nghĩa vụ giữ bí mật thông tin được cung cấp về hồ sơ kiểm toán, khách hàng, đơn vị được kiểm toán theo quy định của pháp luật.

8. Phí dịch vụ kiểm toán

Phí dịch vụ kiểm toán do doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam và khách hàng thỏa thuận trong hợp đồng kiểm toán theo căn cứ sau đây:

  • Nội dung, khối lượng và tính chất công việc;
  • Thời gian và điều kiện làm việc của kiểm toán viên hành nghề, kiểm toán viên  sử dụng để thực hiện dịch vụ;
  • Trình độ kinh nghiệm và uy tín của kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam;
  • Mức độ, trách nhiệm và thời hạn mà việc thực hiện dịch vụ đòi hỏi.

Phí dịch vụ kiểm toán được tính theo các phương thức sau đây:

  • Giờ làm việc của kiểm toán viên hành nghề, kiểm toán viên;
  • Từng dịch vụ kiểm toán với mức phí trọn gói;
  • Hợp đồng kiểm toán nhiều kỳ với mức phí cố định từng kỳ.

9. Quy trình kiểm toán

Quy trình cuộc kiểm toán gồm các bước sau đây:

  • Chấp nhận, duy trì khách hàng và lập kế hoạch kiểm toán;
  • Thực hiện kiểm toán;
  • Kết thúc kiểm toán, lập báo cáo kiểm toán và xử lý sau kiểm toán.

Kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam thực hiện các bước của quy trình kiểm toán theo chuẩn mực kiểm toán.

V. BÁO CÁO KIỂM TOÁN

1. Báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính được lập theo quy định của chuẩn mực kiểm toán và có những nội dung sau đây:

Đối tượng của cuộc kiểm toán;

Trách nhiệm của đơn vị được kiểm toán và doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam;

Phạm vi và căn cứ thực hiện cuộc kiểm toán;

Địa điểm và thời gian lập báo cáo kiểm toán;

Ý kiến kiểm toán về báo cáo tài chính đã được kiểm toán;

Nội dung khác theo quy định của chuẩn mực kiểm toán.

2. Ngày ký báo cáo kiểm toán không được trước ngày ký báo cáo tài chính.

3. Báo cáo kiểm toán phải có chữ ký của kiểm toán viên hành nghề do doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam giao phụ trách cuộc kiểm toán và người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp kiểm toán hoặc người có ủy quyền bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật phải là kiểm toán viên hành nghề.

4. Báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính hợp nhất của tập đoàn, tổng công ty theo mô hình công ty mẹ – công ty con được thực hiện theo quy định của chuẩn mực kiểm toán.

VI. BÁO CÁO KIỂM TOÁN VỀ CÁC CÔNG VIỆC KIỂM TOÁN KHÁC

 Báo cáo kiểm toán về các công việc kiểm toán khác được lập trên cơ sở quy định tại Điều 46 của Luật này và chuẩn mực kiểm toán phù hợp với từng cuộc kiểm toán.

VII. Ý KIẾN KIỂM TOÁN

1. Căn cứ vào kết quả kiểm toán, kiểm toán viên hành nghề và doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam phải đưa ra ý kiến về báo cáo tài chính và các nội dung khác đã được kiểm toán theo quy định của chuẩn mực kiểm toán.

2. Bộ tài chính quy định nội dung không được ngoại trừ trong báo cáo kiểm toán phù hợp với chuẩn mực kiểm toán.

3. Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, đại diện chủ sở hữu đối với đơn vị được kiểm toán có quyền yêu cầu doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam và đơn vị được kiểm toán giải trình về các nội dung ngoại trừ trong báo cáo kiểm toán.

VIII. HỒ SƠ KIỂM TOÁN

1. Kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam phải thu thập và lưu trong hồ sơ kiểm toán tài liệu, thông tin cần thiết liên quan đến từng cuộc kiểm toán để để làm cơ sở cho việc hình thành ý kiến kiểm toán của mình và chứng minh rằng cuộc kiểm toán đã thực hiện theo đúng quy định của pháp luật và chuẩn mực kiểm toán.

2. Kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam phải lập hồ sơ kiểm toán theo quy định của chuẩn mực kiểm toán.

3. Bảo quản, lưu trữ hồ sơ kiểm toán

Hồ sơ kiểm toán phải được bảo quản đầy đủ, an toàn trong quá trình sử dụng.

Hồ sơ kiểm toán phải đưa vào lưu trữ trong thời gian mười hai tháng, kể từ ngày phát hành báo cáo kiểm toán của cuộc kiểm toán. Thời hạn lưu trữ hồ sơ kểm toán tối thiểu là mười năm.

Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam phải chịu trách nhiệm tổ chức bảo quản, lưu trữ hồ sơ kiểm toán an toàn, đầy đủ, hợp pháp và bảo mật.

Hồ sơ kiểm toán đưa vào lưu trữ phải đầy đủ, có hệ thống, phải phân loại, sắp sếp thành từng bộ hồ sơ riêng theo thứ tự thời gian phát sinh và theo từng hợp đồng kiểm toán. Từng cuộc kiểm toán.

Chính phủ quy định chi tiết về lưu trữ, sử dụng và tiêu hủy hồ sơ kiểm toán.

4. Hồ sơ, tài liệu về dịch vụ liên quan

Việc bảo quản, lưu trữ, sử dụng và tiêu hủy hồ sơ, tài liệu về dịch vụ liên quan quy định tại điểm b khoản 1 Điều 40 của Luật này được thực hiện theo quy định tại Điều 49 và 50 của Luật này.

>> dịch vụ giấy phép kinh doanh tại biên hòa